vi
  • vi
  • en
  • ko
  • ja
  • zh

Môi trường đầu tư Việt nam - Bước tiến và thành tựu năm 2019

1601 - 2020

Năm 2019, Việt Nam trở thành điểm sáng thu hút đầu tư mới tại Đông Nam Á. Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết 19 và 4 năm thực hiện Nghị quyết 35, môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện cả về điểm số và thứ hạng trong bảng xếp hạng quốc tế. Nhờ vậy, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI - WEF) của Việt Nam cũng có bước nhảy vọt 10 bậc chỉ trong 1 năm.

Hàng loạt các chính sách được ban hành và thực hiện, khẳng định sự nỗ lực của Chính phủ Việt Nam nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tiêu biểu như Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017; Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019 cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, bên cạnh việc xây dựng, sửa đổi các bộ luật liên quan tới hoạt động kinh doanh theo chuẩn mực quốc tế như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.

Hơn nữa, Chính phủ Việt Nam cũng không ngừng phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là để phục vụ các khu kinh tế và khu công nghiệp trọng điểm. Đơn cử như việc quy hoạch và xây dựng thành phố Nam Định trở thành một trung tâm kinh tế mới tại khu vực Bắc Bộ với các dự án cao tốc đoạn Ninh Bình - Nam Định - Thái Bình, tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Nam Định nhằm thu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh những lợi thế có sẵn như vị trí địa lý thuận lợi nằm ở trung tâm của Khu vực ASEAN cũng như của Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, cơ cấu dân số vàng với khoảng 96,48 triệu dân, trong đó hơn một nửa là người trong độ tuổi lao động, Việt Nam tích cực và chủ động tham gia Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EU_VIET NAM FTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong quá trình mở cửa thương mại hội nhập quốc tế nhằm mang lại lợi thế so sánh cho hàng hóa sản xuất tại Việt Nam khi tiếp cận các thị trường này.

Sự nỗ lực này của Việt Nam đã được các tổ chức kinh tế thế giới quan sát và đánh giá cao. Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá môi trường kinh doanh của Việt Nam đã đạt mức trung bình khá trên bình diện quốc tế với xếp hạng 70/190. Trong khi đó theo đánh giá mới nhất của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc chỉ riêng trong năm vừa qua lên hạng thứ 67/141, đặc biệt trong bối cảnh mà WEF đánh giá năng lực cạnh tranh của nhiều nước tại Châu Á hay trong Khu vực như Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philipines hay Ấn Độ đều bị giảm bậc. Cùng với đó, US News & World Report ghi nhận những nỗ lực chuyển mình của môi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam bằng việc xếp Việt Nam ở vị trí thứ 8 trong số 20 quốc gia tốt nhất để đầu tư, tăng 15 bậc so với năm trước và trở thành điểm đến đầu tư tốt nhất trong khu vực ASEAN trong danh sách này.

Với môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh được cải thiện, nhiều tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đã nâng hạng mức xếp hạng của Việt Nam trong thời gian gần đây. Bằng chứng, tháng 4/2019, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poors (S&P) nâng hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn cho Việt Nam từ mức "BB-" lên mức "BB" với triển vọng "ổn định". Tháng 5/2019, Fitch Ratings tiếp tục nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ mức "ổn định" lên "tích cực". Đây là những bước tiến quan trọng, khẳng định nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh được cải thiện đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Sau năm 2018 khi Việt Nam lần đầu tiên vào nhóm 20 nước thu hút FDI hàng đầu thế giới, tiếp nối đà tăng trưởng này, Việt Nam thu hút hơn 38 tỷ USD vốn FDI trong năm 2019, với mức tăng kỷ lục trong 10 năm trở lại đây đạt 7,2% so với năm trước. Cùng với đó, lượng vốn FDI giải ngân của Việt Nam cũng lần đầu tiên vượt mốc 20 tỷ USD, trong khi FDI toàn cầu có xu hướng giảm tốc độ tăng. Trong 125 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Hàn Quốc tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 7,92 tỷ USD, theo sau là Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc Đại Lục. Đặc biệt, theo Tổng cục Thống kê, từ cuối năm 2018 đến tháng 6 năm 2019, dòng vốn đầu tư chuyển dịch từ Hồng Kông và Trung Quốc Đại Lục sang Việt Nam đã tăng đột biến, tổng vốn đầu tư đăng ký từ Trung Quốc ước đạt 7,1 tỷ USD, chiếm tới 42,4% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký trong 5 tháng đầu năm 2019. So với dòng vốn FDI từ Hồng Kông và Trung Quốc Đại Lục trong cả năm 2017 là 3,7 tỷ USD; cả năm 2018 là 5,8 tỷ USD, dòng vốn FDI đăng ký của Trung Quốc tăng đột biến trong 5 tháng đầu năm 2019.

Dệt may - ngành mũi nhọn

Dệt may tiếp tục sẽ là một trong những ngành mũi nhọn tiếp nhận nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong xu hướng dịch chuyển chuỗi sản xuất và cung ứng (Ảnh minh họa: sggp.org.vn)

Nối tiếp những thành công đó, bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2020 được dự đoán tiếp tục có nhiều mảng sáng, trong xu thế dịch chuyển và đa dạng hóa chuỗi sản xuất và cung ứng hiện nay. Theo SSI Research, tác động ngắn hạn từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tới Việt Nam là gián tiếp, không bị ảnh hưởng tiêu cực nhiều. Đối với FDI, dự báo, tốc độ tăng vốn FDI thực hiện 7 - 8%, đạt 23 - 24 tỷ USD, chiếm 22 - 23% tổng vốn đầu tư xã hội.

Tuy nhiên, để có thể sẵn sàng đón nhận và hấp thu hiệu quả nguồn vốn FDI, Việt Nam cần đẩy mạnh việc nâng cao năng lực và năng suất lao động hiện còn tương đối thấp so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc biệt là về hạ tầng logistics song hành với việc tiếp tục cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính trong quy trình đầu tư nhằm tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, minh bạch, công bằng.

Aurora IP

Tin Liên Quan

http://auroraip.vn/
http://auroraip.vn/catalog/view/theme/